Thủ tục miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật huyện
| Thông tin | Nội dung |
|---|---|
| Cơ quan thực hiện | - Cơ quan thực hiện: Phòng Tư pháp - Cơ quan có thẩm quyền quyết định: không có thông tin - Cơ quan được ủy quyền: không có thông tin - Cơ quan phối hơp: không có thông tin |
| Địa chỉ cơ quan giải quyết | |
| Lĩnh vực | Tư pháp |
| Cách thức thực hiện | Không quy định. |
| Số lượng hồ sơ | 01 bộ |
| Thời hạn giải quyết | Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị miễn nhiệm. |
| Ðối tượng thực hiện | Tổ chức hoặc cá nhân |
| Kết quả thực hiện | Quyết định miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật huyện |
| Phí | |
| Lệ phí | Không |
| Căn cứ pháp lý | - Luật 14/2012/QH13 (link is external) ngày 20 tháng 06 năm 2012 LUẬT Phổ biến, giáo dục pháp luật
- Nghị định 28/2013/NĐ-CP (link is external) ngày 04 tháng 04 năm 2013 Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật - Thông tư 10/2016/TT-BTP (link is external) ngày 22 tháng 7 năm 2016 quy định về báo cáo viên pháp luật, tuyên truyền viên pháp luật |
Thủ trưởng cơ quan, tổ chức cấp huyện đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật huyện có văn bản đề nghị miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật huyện gửi đến Phòng Tư pháp tổng hợp, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ra quyết định miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật huyện.
Việc miễn nhiệm báo cáo viên pháp luật được thực hiện khi báo cáo viên pháp luật thuộc một trong các trường hợp sau: + Tự nguyện xin thôi làm báo cáo viên pháp luật vì lý do sức khỏe, hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do chính đáng khác; + Không còn là cán bộ, công chức, viên chức, sỹ quan trong lực lượng vũ trang nhân dân hoặc chuyển công tác khỏi cơ quan, tổ chức đã đề nghị công nhận báo cáo viên pháp luật; + Không còn đủ tiêu chuẩn quy định tại Khoản 2 Điều 35 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật; + Từ chối không thực hiện hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật theo sự phân công của cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý trực tiếp mà không có lý do chính đáng từ 03 lần trở lên; + Thực hiện một trong các hành vi bị cấm quy định tại Điều 9 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật; + Bị Tòa án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật; + Mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự.